Bài văn hay phân tích về người nông dân trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Hướng dẫn

Năm1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam. Trong khi triều đình phong kiến bất tài, hèn nhát chỉ lo bảo vệ quyền lợi cho mình, thì chính những người nông dân chất phác, liền lành đã đứng lên cầm vũ khí chống giặc. Sát cánh bên cạnh họ, những nhà văn nhà thơ yêu nước đã sử dụng ngòi bút của mình ghi lại một trong những thời đại đau thương nhưng anh dũng của dân tộc, tiêu biểu là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

Trong lịch sửvăn học, hiếm có một tác giả nào lại có hoàn cảnh đặc biệt như Đồ- Chiểu. Sớm bị mù cả hai mắt, ông sống trong sự yêu thương đùm bọc của những người dân Nam Bộ, và đã chọn ba nghề hữu ích nhất để cứu người, giúp đời: dạy học, bốc thuốc, sáng tác văn thơ. Có lẽ chính vì thế mà Nguyễn Đình Chiểu càng thêm yêu hơn người nông dân giản dị, chất phác, yêu hơn thiên nhiên đất nước mình. Đó cũng là động lực để trong tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu thấy tựông phải có trách nhiệm dựng lại một trang sử tuy đau thương nhưng sáng ngời tinh thần bất khuất củacả dân tộc.

Đó là sự căm phẫn từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược, giày xéo lên những mánh đất là máu thịt của Tổ quốc: ‘Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ’.

Đó là niềm đau thương khi những người con của Tổ quốc ngã xuống bởi bàn tay ke thù. Nước mắt của những người thân họ đã được tác giả miêu tả bằng một hình ảnh xúc động sâu sắc dành cho người nghĩa quân: ‘Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ…, não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng… ‘. Khắp nơi nhân dân đều đau xót: ‘nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ’ trước nỗi đau quá lớn họ hứng chịu. Đây không chi là sự mất mát một người quen, một người bạn, một người thân bởi vì trong sự tiếc thương ấy có cả niềm cảm phục dành cho người nông dân chiến sĩ.

Đó là lòng căm thù lũ cướp nước đang từng ngày từng giờ làm nhơ bẩn đất quê hương. ‘Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ’.

Xem thêm:  Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục

Như lịch sử đã chứng tỏ, mỗi khi có giặc ngoại xâm, lòng yêu nước của nhân dân ta lại hợp nhất, tạo thành một sức mạnh lớn lao và dữ dội, gây kinh hoàng cho kẻ thù. Chẳng thế mà những nghĩa quân ấy, mới hôm qua thôi còn là những người nông dân chân lấm tay bùn, chỉ quen tay ‘việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy’, ‘chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung’. Thế mà chẳng mấy chốc họ đã tập hợp lại tạo thành một đội quân khiến giặc phải khiếp sợ. Đáng quý nhất ở họ là tinh thần tự nguyện chân thành, tinh thần chỉcó thể xuất phát từ trái tim yêu nước nồng nàn từ lâu đã trở thành một truyền thống đẹp đẽ của dân tộc. Thậm chí họ chưa từng một lần đụng tới vũ khí: ‘chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ’. Vũ khí của họ chỉ là những vật dụng, công cụ thô sơ gắn bó vói đời sống sinh hoạt, đồng áng, giờ lại cùng với người nông dân chiến sĩ xung trận: ‘Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi’ – ‘gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay’. Họ chỉ ‘ngoài cật có một manh áo vải’, ‘trong tay cầm một ngọn tầm vông’ bởi họ vẫn chỉ là những người nông dân biết sống vì nghĩa và mến nghĩa.

Dõi theo trận đánh của những người nông dân chiến sĩấy, mà ta đường như thấy cả một dân tộc đang xung trận oai hùng. Mặc dù thật sự không thể chứng kiến trận đánh hào hùng ấy, nhưngắt hẳn tác giả đã cảm nhận tinh thần bất khuất của người chiến sĩ bằng cái tâm sáng ngời của mình, để vẽ lại cho người đọc những giây phút đẩy tự hào trong lịch sử chống giặc xâm lược. Những động từ mạnh ‘kẻ đâm ngang’, ‘người chém ngược’, ‘đạp rào lướt tới’, ‘xô cửa xông vào’ làm chúng ta thấy như thể chính Nguyễn Đình Chiểu đang có mặt trong đội quân chính nghĩa ngày nào.

Những người con anh dũng ấy không còn nữa, thế nhưng tinh thần của họ vẫn đang sống mãi với mọi người dân. Trong tâm tưởng của họ luôn in đậm lý tưởng sống cao cả ‘sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia’. Đó cũng là lẽsống của mọi người dân Việt Nam yêu nước trong một thời đại lịch sửvĩ đại, sáng ngời tên tuổi những nghĩa sĩđã xả thân cho đất nước.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Xem thêm:  Nêu vắn tắt hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2 – 9 – 1945